Người học được xem là một cá thể có khả năng độc lập, sáng tạo và học tập. Chính sự tin tưởng tạo nên mối quan hệ sư phạm. Đối với trào lưu thứ hai này, tri thức hơi bị đặt bên lề và điều mà người ta quan tâm duy nhất là mối quan hệ giữa giáo viên và học sinh. Hệ thống « tự do » đă dẫn đến một vài trật đường bởi nhiều người đă đánh giá hệ thống này quá mềm dẻo và không dựa trên các kiến thức lư thuyết.
Trào lưu thứ ba :
các mục tiêu
Dường như trào lưu trước « quên » vai tṛ của trường học là cũng có thể phát triển ở học sinh khả năng nắm bắt tri thức, phản ứng trước trào lưu này, một trào lưu mới đă nảy sinh. Ra đời vào giữa những năm 1970, trào lưu này được xác định bởi sư phạm mục tiêu. Phương pháp này tập trung « cắt » tri thức theo ư định của học sinh. Người ta luôn biết rơ vai tṛ của người học trong việc xây dựng quá tŕnh học tập nhưng người ta vẫn theo các phương pháp sư phạm chính xác để đánh giá sự tiến bộ của sinh viên và bảo đảm rằng họ có thể áp dụng tri thức đă học.
Trong trào lưu này, quá tŕnh học được chia theo các giai đoạn. Nh́n h́nh ảnh một bức tường nơi mà các viên gạch xếp chồng lên nhau, tri thức chất đống, tích tụ lại ở người học. Để bước sang một giai đoạn mới th́ giai đoạn trước phải được nắm vững. Trào lưu này quan tâm đến học sinh bằng cách đề ra các mục tiêu sư phạm chính xác dựa trên các khả năng của học sinh. Học sinh phải được hướng dẫn để nắm vững môn học , phải đạt đến « có khả năng để …». Chương tŕnh học được thực hiện dựa trên nền tảng nghiên cứu chính xác các giai đoạn học tập. Sự nối tiêp nhau của các mục tiêu chuyên biệt được đặt ra là đồng nhất cho tất cả mọi học sinh, chỉ có thời gian để đạt được các mục tiêu này là khác nhau.
Lợi ích mang lại cho học sinh không chỉ giới hạn ở lĩnh vực phát triển nhận thức ; các nhà nghiên cứu cũng thiết lập các mục tiêu ở lĩnh vực phát triển cảm xúc và phát triển vận động tâm thần.