Phương pháp tiếp cận này dựa trên
nguyên lư học tập xây dựng của Piaget (1956). Tiếp tục ư tưởng của
Dewey (1916/1990) và cũng như Vygotsky (1987) và Brunner (1997),
Piaget đề xuất : việc học được h́nh thành trong hoạt động của chủ
thể lên khách thể. Như vậy, mọi kiến thức đều được t́nh huống
hoá. Cũng cần nhắc lại rằng Piaget
được xem như là một trong những người tiên phong về thuyết
tạo dựng, một trào lưu nhận được sự
tán đồng của nhiều người làm trong lĩnh vực giáo dục. Piaget đă
chứng minh được tính hiệu quả của trào lưu này. Nó vừa có giá trị
đối với sự phát triển trí năng vừa có giá trị đối với sự tiếp thu
kiến thức hoạt động. Hơn 30 năm trước đây, ông đă từng đề nghị rằng
« giáo viên hăy thôi đóng vai của một người đọc diễn văn, mà hăy
kích thích sự t́m ṭi và cố gắng (ở học sinh) thay v́ bằng ḷng với
việc chuyển tải các giải pháp đă làm sẵn » (Piaget, 1972).
Và gần đây, Glasersfeld, một cánh chim đầu đàn đương đại của thuyết
tạo dựng và là một môn đồ của Piaget, cũng đă bảo vệ quan điểm rằng một người biết những ǵ ḿnh biết v́ người đó đă tự xây dựng cho ḿnh những kiến thức từ những kinh nghiệm riêng của bản thân. Và ông đă đưa định nghĩa về thuyết xây dựng : « Đó là một phương pháp tiếp cận không chính thống về vấn đề kiến thức và hiểu biết. Nó bắt đầu từ giả định rằng kiến thức, dù được định nghĩa thế nào đi nữa, vẫn nằm trong đầu con người và rằng chủ thể suy nghĩ không có lựa chọn nào khác ngoài xây dựng những ǵ ḿnh biết dựa trên kinh nghiệm của bản thân » (Glasersfeld, 1996). Theo Glasersfeld, có thể nói học sinh đă trở thành một thợ thủ công tạo ra việc học của chính ḿnh.
Một yếu tố quan trọng khác mà
Vygotsky đă nêu lên trong một trong những luận văn của ḿnh (1989)
liên quan đến việc giúp đỡ mà một người lớn có thể đem lại cho người
học. Bước này được biết đến bởi thuật ngữ “vùng phát triển gần
nhất”. Đây là khái niệm chủ đạo của thuyết xă hội-xây dựng.
Vùng này nằm giữa tŕnh độ phát triển hiện tại (là mức mà người học
đạt được một tŕnh độ kiến thức nào đó) và tŕnh độ mà người học có
thể đạt được với sự giúp đỡ của người khác.
Về mặt khoa học luận, khái niệm
xă hội-xây dựng
làm liên tưởng đến lư thuyết xây dựng. Theo lư thuyết này, một kiến
thức không thể được « chuyển tải » đến một cá nhân mà phải « do cá
nhân đó tự xây dựng nên » (Jonnaert, 2002). Như thế là lư thuyết xây
dựng đối lập với lư thuyết bản thể. Theo lư thuyết thứ hai này, kiến
thức có được là do giảng dạy và sau đó được thể hiện. Ở đây, chúng
ta đang nói theo quan điểm của giáo viên hay đào tạo viên (lôgíc
giảng dạy). Trong quá tŕnh đào tạo dựa trên hệ quan niệm xây dựng,
kiến thức được xây dựng và được học. Từ đó, quan điểm của người học
sẽ xác định tổng thể các công cụ đào tạo và đánh giá (lôgíc học
tập).